Biên Cương 07/04/2021 16:00
Bạn có bao giờ thắc mắc vì sao tại khách sạn thường luôn đặt nhiều gối trên giường? Ví dụ giường đơn có 2 chiếc gối, giường đôi thì sẽ có 4 chiếc hay thậm chí nhiều hơn nữa. Thường các khách sạn sẽ đặt một chiếc gối lớn màu trắng hoặc màu trơn ở dưới làm gối ngủ, vậy còn những chiếc gối nhỏ màu nổi bật bắt mắt hơn dùng để làm gì?Trước tiên, chúng có nhiệm vụ làm đẹp cho căn phòng và khiến giường trông bớt trống trải. Tiếp đó, khách lưu trú có thể dùng gối nhỏ để tựa lưng khi ngồi đọc sách, xem tivi,... Nhưng lý do chính đơn giản là vì các chuyên gia từ lâu đã biết cách dùng gối khi ngủ tốt nhất của con người là phải dùng hai gối. Ngoài chiếc gối để kê đầu thông thường, bạn nên kê chiếc gối nhỏ này dưới chân khi nằm ngửa hoặc kẹp giữa hai chân khi nằm nghiêng.Hành động kê/kẹp gối này sẽ mang lại cực kỳ nhiều lợi ích ít người biết:Cải thiện lưu thông máu trong cơ thểNếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.Kê gối giữa hai chân hoặc kê lên cao sẽ giúp cải thiện lưu thông máu trong cơ thể, giảm áp lực lên tĩnh mạch và thậm chí tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn. Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.Ngăn ngừa ngủ ngáyTheo các chuyên gia, ngủ nghiêng về bên trái là tư thế tốt nhất cho bạn nếu bạn mắc chứng ngủ ngáy. Nhưng khi ngủ nghiêng một bên có thể gây áp lực không tốt lên lưng và hông. Vì thế chúng ta nên kê một chiếc gối giữa hai chân để có thể thư giãn và giảm thiểu áp lực này.Giảm lực tác động lên đầu gốiNếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ, thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu.Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ hằng đêm hoặc đơn giản là bạn muốn bảo vệ xương của mình thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu. Lớp đệm bảo vệ này giúp chúng ta thư giãn và có thể giảm bớt các cơn đau.Giúp duy trì tư thế ngủ chính xácNgủ với một chiếc gối giữa hai chân giúp giảm áp lực lên lưng dưới và cột sống của bạn. Nếu bạn nằm ngửa khi ngủ, kê gối nhỏ sẽ giúp giữ cơ thể thẳng hàng ở tư thế tốt. Tập tư thế ngủ đúng cách không chỉ đơn thuần giúp ngủ ngon hơn mà còn bảo vệ xương khớp và sức khỏe nói chung.Vì vậy, chúng ta hãy học tập các khách sạn, sắm cho mình thêm gối và giữ thói quen dùng gối khoa học này nhé!

Bạn có bao giờ thắc mắc vì sao tại khách sạn thường luôn đặt nhiều gối trên giường? Ví dụ giường đơn có 2 chiếc gối, giường đôi thì sẽ có 4 chiếc hay thậm chí nhiều hơn nữa. Thường các khách sạn sẽ đặt một chiếc gối lớn màu trắng hoặc màu trơn ở dưới làm gối ngủ, vậy còn những chiếc gối nhỏ màu nổi bật bắt mắt hơn dùng để làm gì?

Trước tiên, chúng có nhiệm vụ làm đẹp cho căn phòng và khiến giường trông bớt trống trải. Tiếp đó, khách lưu trú có thể dùng gối nhỏ để tựa lưng khi ngồi đọc sách, xem tivi,... Nhưng lý do chính đơn giản là vì các chuyên gia từ lâu đã biết cách dùng gối khi ngủ tốt nhất của con người là phải dùng hai gối. Ngoài chiếc gối để kê đầu thông thường, bạn nên kê chiếc gối nhỏ này dưới chân khi nằm ngửa hoặc kẹp giữa hai chân khi nằm nghiêng.

Hành động kê/kẹp gối này sẽ mang lại cực kỳ nhiều lợi ích ít người biết:

Cải thiện lưu thông máu trong cơ thể

Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.
Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.

Kê gối giữa hai chân hoặc kê lên cao sẽ giúp cải thiện lưu thông máu trong cơ thể, giảm áp lực lên tĩnh mạch và thậm chí tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn. Nếu giữ thói quen lâu dài, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng giãn tĩnh mạch.

Ngăn ngừa ngủ ngáy

Theo các chuyên gia, ngủ nghiêng về bên trái là tư thế tốt nhất cho bạn nếu bạn mắc chứng ngủ ngáy. Nhưng khi ngủ nghiêng một bên có thể gây áp lực không tốt lên lưng và hông. Vì thế chúng ta nên kê một chiếc gối giữa hai chân để có thể thư giãn và giảm thiểu áp lực này.

Giảm lực tác động lên đầu gối

Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ, thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu.
Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ, thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu.

Nếu cơn đau đầu gối khiến bạn khó ngủ hằng đêm hoặc đơn giản là bạn muốn bảo vệ xương của mình thì kê gối là giải pháp đơn giản, dễ thực hiện hàng đầu. Lớp đệm bảo vệ này giúp chúng ta thư giãn và có thể giảm bớt các cơn đau.

Giúp duy trì tư thế ngủ chính xác

Ngủ với một chiếc gối giữa hai chân giúp giảm áp lực lên lưng dưới và cột sống của bạn. Nếu bạn nằm ngửa khi ngủ, kê gối nhỏ sẽ giúp giữ cơ thể thẳng hàng ở tư thế tốt. Tập tư thế ngủ đúng cách không chỉ đơn thuần giúp ngủ ngon hơn mà còn bảo vệ xương khớp và sức khỏe nói chung.

Vì vậy, chúng ta hãy học tập các khách sạn, sắm cho mình thêm gối và giữ thói quen dùng gối khoa học này nhé!

0 0
Thục Trinh 30/03/2021 15:39
Nguyên nhân chính dẫn đến việc mắt bị cay rát là do mắt bị khô.Bên cạnh việc thiếu chớp mắt, khi ngủ cơ chế tạo ra nước mắt của cơ thể cũng không hoạt động như khi bạn thức, dẫn đến mắt không được bôi trơn, do đó khiến chúng bị khô.Tình trạng khô mắt thậm chí còn tồi tệ hơn ở những người ngủ với mí mắt mở một phần. Ngủ khi mắt không nhắm hẳn, cùng với việc thiếu chớp mắt sẽ làm khô mắt nhanh hơn. Bên cạnh đó, ngủ ngay dưới quạt trần chạy quá mạnh cũng không cũng có tác hại tương tự.Hiện tượng khô mắt cũng xảy ra sau khi làm việc trong thời gian dài, chẳng hạn như nhìn vào màn hình máy tính hoặc điện thoại thông minh, hoặc thậm chí đọc sách. Mọi người có xu hướng chớp mắt ít hơn khi tập trung vào điều gì đó, điều này khiến mắt họ nhanh chóng bị khô.Trên thực tế, chúng ta thường chớp mắt 15-20 lần một phút, nhưng khi làm điều gì đòi hỏi sự tập trung, chẳng hạn như mải mê xem một chương trình truyền hình hoặc đọc sách,… tốc độ chớp mắt có thể giảm xuống chỉ còn 3-4 lần một phút.Đây là lý do tại sao các bác sĩ đôi khi khuyên mọi người sử dụng thuốc nhỏ mắt giúp làm giảm chứng khô mắt — một tình trạng rất thường thấy ở những người làm việc trước màn hình máy tính trong nhiều giờ liên tục.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc mắt bị cay rát là do mắt bị khô.

Bên cạnh việc thiếu chớp mắt, khi ngủ cơ chế tạo ra nước mắt của cơ thể cũng không hoạt động như khi bạn thức, dẫn đến mắt không được bôi trơn, do đó khiến chúng bị khô.

Tình trạng khô mắt thậm chí còn tồi tệ hơn ở những người ngủ với mí mắt mở một phần. Ngủ khi mắt không nhắm hẳn, cùng với việc thiếu chớp mắt sẽ làm khô mắt nhanh hơn. Bên cạnh đó, ngủ ngay dưới quạt trần chạy quá mạnh cũng không cũng có tác hại tương tự.

Hiện tượng khô mắt cũng xảy ra sau khi làm việc trong thời gian dài, chẳng hạn như nhìn vào màn hình máy tính hoặc điện thoại thông minh, hoặc thậm chí đọc sách. Mọi người có xu hướng chớp mắt ít hơn khi tập trung vào điều gì đó, điều này khiến mắt họ nhanh chóng bị khô.

Trên thực tế, chúng ta thường chớp mắt 15-20 lần một phút, nhưng khi làm điều gì đòi hỏi sự tập trung, chẳng hạn như mải mê xem một chương trình truyền hình hoặc đọc sách,… tốc độ chớp mắt có thể giảm xuống chỉ còn 3-4 lần một phút.

Đây là lý do tại sao các bác sĩ đôi khi khuyên mọi người sử dụng thuốc nhỏ mắt giúp làm giảm chứng khô mắt — một tình trạng rất thường thấy ở những người làm việc trước màn hình máy tính trong nhiều giờ liên tục.

0 1
Kim Liên 22/03/2021 14:23
Một trong những nguyên nhân có thể là do các biện pháp hỗ trợ sinh sản, chẳng hạn như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này làm tăng cơ hội sinh đôi nếu người mẹ được cấy hơn 1 phôi thai vào tử cung.Tuy nhiên, một số nơi trên thế giới có thể đã đạt đến thời điểm có nhiều ca sinh đôi nhất, vì các chuyên gia bắt đầu giảm số lượng phôi thai cấy vào cơ thể người mẹ sau khi thực hiện IVF.Đồng tác giả của nghiên cứu này, Giáo sư Christiaan Moden của Trường đại học Oxford, Anh, cho biết: Những con số tương đối và tuyệt đối của các ca sinh đôi trên thế giới hiện nay đang ở mức cao nhất kể từ giữa thế kỷ XX và có lẽ là cao nhất mọi thời đại. Hiểu về vấn đề này là việc rất quan trọng vì các ca sinh đôi liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và nhiều nguy cơ biến chứng hơn đối với các bà mẹ và trẻ nhỏ trong quá trình mang thai, trong và sau thời điểm sinh nở.Ngày càng có nhiều phụ nữ sinh con ở độ tuổi muộn hơn, điều này cũng góp phần làm tăng tỷ lệ sinh đôi, vì phụ nữ nhiều tuổi hơn dễ thụ thai sinh đôi hơn.Các nhà nghiên cứu đã phân tích thông tin về các ca sinh đôi ở 165 nước trong thời gian 2010 - 2015. Trong số đó, 112 nước có cả thông tin cho giai đoạn 1980 - 1985. Nhờ đó các nhà nghiên cứu có thể so sánh khá thuận lợi. Kết quả cho thấy trong 30 năm qua, tỷ lệ sinh đôi tăng hơn 10% ở 74 trong số 112 nước đó.Nguyên nhân tăng chủ yếu do tăng số ca sinh đôi từ hai hợp tử (sinh đôi khác trứng); còn tỷ lệ sinh đôi từ một hợp tử (sinh đôi cùng trứng) thì vẫn giữ nguyên trên toàn thế giới, với khoảng 4 trường hợp/ 1.000 ca sinh.Tính riêng từng châu lục thì Bắc Mỹ có mức tăng cao nhất với con số 71% trong 3 thập kỷ qua. Đứng thứ hai là châu Âu - 58%, và châu Đại Dương - 46%.Nhưng xét về tỷ lệ thì châu Phi là nơi có tỷ lệ sinh đôi tăng cao nhất thế giới, 17 trường hợp/ 1.000 ca sinh. Tuy vậy, tỷ lệ này gần như không thay đổi trong suốt 3 thập kỷ qua. Vì vậy các nhà nghiên cứu nhận định một bộ phận người dân châu Phi có gene dễ sinh đôi hơn so với toàn bộ dân số còn lại trên thế giới."Trong cả hai giai đoạn có số liệu nghiên cứu, châu Phi đều có tỷ lệ sinh đôi cao nhất và cũng không có sự gia tăng theo thời gian, còn châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương thì tăng lên rất nhanh", giáo sư Monden cho biết.Nhưng điều đáng nói là cơ hội sống của các bé sinh đôi ở các nước giàu có rất khác so với các bé này ở các nước nghèo."Trẻ sinh đôi ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình cần được chú ý nhiều hơn. Cụ thể như ở châu Phi cận Sahara, nhiều cặp song sinh chỉ còn một bé sống được trong năm đầu đời, tức là mỗi năm có 200 đến 300 trẻ sinh đôi mất đi" - đồng tác giả của nghiên cứu, Giáo sư Jeroen Smits của Trường đại học Radboud, Hà Lan, cho biết.Các nhà nghiên cứu kêu gọi các nước tập hợp và lưu trữ số liệu tốt hơn về các trường hợp sinh đôi, cụ thể là ở những nước nghèo, bởi vì thiếu số liệu sẽ hạn chế tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Theo họ, cần có thêm nghiên cứu sâu để xác định xem tỷ lệ sinh đôi đã thực sự đạt đỉnh điểm ở các nước có thu nhập cao hay chưa và các phương pháp hỗ trợ sinh sản ở các nước thu nhập thấp và trung bình ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sinh đôi.Nghiên cứu này vừa được công bố ngày 11/3/2021 trên tạp chí Human Reproduction của Trường đại học Oxford, Anh.

Một trong những nguyên nhân có thể là do các biện pháp hỗ trợ sinh sản, chẳng hạn như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này làm tăng cơ hội sinh đôi nếu người mẹ được cấy hơn 1 phôi thai vào tử cung.

Tuy nhiên, một số nơi trên thế giới có thể đã đạt đến thời điểm có nhiều ca sinh đôi nhất, vì các chuyên gia bắt đầu giảm số lượng phôi thai cấy vào cơ thể người mẹ sau khi thực hiện IVF.

Đồng tác giả của nghiên cứu này, Giáo sư Christiaan Moden của Trường đại học Oxford, Anh, cho biết: Những con số tương đối và tuyệt đối của các ca sinh đôi trên thế giới hiện nay đang ở mức cao nhất kể từ giữa thế kỷ XX và có lẽ là cao nhất mọi thời đại. Hiểu về vấn đề này là việc rất quan trọng vì các ca sinh đôi liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và nhiều nguy cơ biến chứng hơn đối với các bà mẹ và trẻ nhỏ trong quá trình mang thai, trong và sau thời điểm sinh nở.

Ngày càng có nhiều phụ nữ sinh con ở độ tuổi muộn hơn, điều này cũng góp phần làm tăng tỷ lệ sinh đôi, vì phụ nữ nhiều tuổi hơn dễ thụ thai sinh đôi hơn.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích thông tin về các ca sinh đôi ở 165 nước trong thời gian 2010 - 2015. Trong số đó, 112 nước có cả thông tin cho giai đoạn 1980 - 1985. Nhờ đó các nhà nghiên cứu có thể so sánh khá thuận lợi. Kết quả cho thấy trong 30 năm qua, tỷ lệ sinh đôi tăng hơn 10% ở 74 trong số 112 nước đó.

Nguyên nhân tăng chủ yếu do tăng số ca sinh đôi từ hai hợp tử (sinh đôi khác trứng); còn tỷ lệ sinh đôi từ một hợp tử (sinh đôi cùng trứng) thì vẫn giữ nguyên trên toàn thế giới, với khoảng 4 trường hợp/ 1.000 ca sinh.

Tính riêng từng châu lục thì Bắc Mỹ có mức tăng cao nhất với con số 71% trong 3 thập kỷ qua. Đứng thứ hai là châu Âu - 58%, và châu Đại Dương - 46%.

Nhưng xét về tỷ lệ thì châu Phi là nơi có tỷ lệ sinh đôi tăng cao nhất thế giới, 17 trường hợp/ 1.000 ca sinh. Tuy vậy, tỷ lệ này gần như không thay đổi trong suốt 3 thập kỷ qua. Vì vậy các nhà nghiên cứu nhận định một bộ phận người dân châu Phi có gene dễ sinh đôi hơn so với toàn bộ dân số còn lại trên thế giới.

"Trong cả hai giai đoạn có số liệu nghiên cứu, châu Phi đều có tỷ lệ sinh đôi cao nhất và cũng không có sự gia tăng theo thời gian, còn châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương thì tăng lên rất nhanh", giáo sư Monden cho biết.

Nhưng điều đáng nói là cơ hội sống của các bé sinh đôi ở các nước giàu có rất khác so với các bé này ở các nước nghèo.

"Trẻ sinh đôi ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình cần được chú ý nhiều hơn. Cụ thể như ở châu Phi cận Sahara, nhiều cặp song sinh chỉ còn một bé sống được trong năm đầu đời, tức là mỗi năm có 200 đến 300 trẻ sinh đôi mất đi" - đồng tác giả của nghiên cứu, Giáo sư Jeroen Smits của Trường đại học Radboud, Hà Lan, cho biết.

Các nhà nghiên cứu kêu gọi các nước tập hợp và lưu trữ số liệu tốt hơn về các trường hợp sinh đôi, cụ thể là ở những nước nghèo, bởi vì thiếu số liệu sẽ hạn chế tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Theo họ, cần có thêm nghiên cứu sâu để xác định xem tỷ lệ sinh đôi đã thực sự đạt đỉnh điểm ở các nước có thu nhập cao hay chưa và các phương pháp hỗ trợ sinh sản ở các nước thu nhập thấp và trung bình ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sinh đôi.

Nghiên cứu này vừa được công bố ngày 11/3/2021 trên tạp chí Human Reproduction của Trường đại học Oxford, Anh.

0 0
Bích Thủy 23/02/2021 11:55
Tại sao bầu trời có màu xanh mà không phải màu sắc nào khác rực rỡ? Tại sao vũ trụ lại có màu đen? Và lý do tại sao chúng không thể đổi sang gam màu khác hay hoán đổi màu sắc cho nhau. Lý do bầu trời có màu xanh lamDù khoa học đã phát triển,  nhưng vũ trụ vẫn còn không ít những bí ẩn mà con người chưa thể giải đáp được. Tuy nhiên, bằng nghiên cứu khoa học, những hiện tượng đời thường mà chúng ta gặp phải như bầu trời có màu xanh và vũ trụ có màu đen đã được lý giải rõ ràng. Ai cũng biết và quen thuộc với việc bầu trời có màu xanh, nhưng ít ai biết được lý do tại sao. Về cơ bản, ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt đất là màu trắng, nhưng khi đi qua bầu khí quyển sẽ có nhiều màu sắc khác nhau tùy theo thời tiết, độ ẩm, không khí. Dù vậy, màu sắc mà con người thường nhìn thấy trên bầu trời là màu xanh, vì chùm sáng xanh lam có bước sóng dài nhất đi vào khí quyển. Chùm sáng này bị không khí tán xạ mạnh và chịu phản xạ bởi hơi nước, bụi bặm. Kết quả của quá trình chiếu sáng này là con người nhìn thấy màu xanh lam trên bầu trời. Tương tự như vậy, khi chiều tà, lương không khí dày hơn sẽ làm tán xạ được cả ánh sáng đỏ và cam trên bầu trời. Lúc này,người ta sẽ thấy trời có màu đỏ ối hoặc màu cam vào lúc hoàng hôn. Để dễ hiểu hơn thì khi mặt trời lặn, ánh sáng cần phải đi một đoạn đường dài hơn qua không khí trước khi đến được với mắt người. Vì thế, sẽ có nhiều ánh sáng bị phản xạ và tán xạ hơn. Càng có ít ánh sáng trực tiếp từ mặt trợi chiếu đến vị trí người nhìn thì hình ảnh mặt trời sẽ càng ít phát sáng hơn. Đồng thời, màu sắc của nền trời cũng có sự thay đổi từ màu vàng sang cam rồi cuối cùng là đỏ.Và vì sao vũ trụ có màu đenVũ trụ có màu đen dù mặt trời và hàng vạn vì sao đều chiếu sáng. Điều này là do quy luật của ánh sáng, tức là mắt người chỉ nhìn thấy một vật trong trường hợp ánh sáng từ vật đó chiếu đến mắt người và hình ảnh nhìn thấy tương quan với kích thước của vật phát sáng. Thế nên dù các vì sao có sáng và nhiều đến đâu, nhưng vì chúng ở cách nhau quá xa nên vũ trụ mênh mông luôn là một màu đen với các chấm sáng lốm đốm như ta thường thấy. Ngoài ra, quy luật ánh sáng này cũng áp dụng cho cả màu sắc của những ngôi sao mà chúng ta nhìn thấy. Dù các ngôi sao trên thực tế có cả màu xanh lá cây, nhưng vì khi nhìn vào vật thể, mắt người lại trộn tất cả các màu sắc có bước sóng khác nhau lại nên hình ảnh cuối cùng đề chỉ là màu trắng, giống như với mặt trời. Thế nên, dù đôi khi có thể thấy những ngôi sao có màu sắc đỏ, cam, trắng, vàng… nhưng hầu như con người không bao giờ nhìn thấy được những ngôi sao có màu xanh lá cây.

Tại sao bầu trời có màu xanh mà không phải màu sắc nào khác rực rỡ? Tại sao vũ trụ lại có màu đen? Và lý do tại sao chúng không thể đổi sang gam màu khác hay hoán đổi màu sắc cho nhau.
 

Lý do bầu trời có màu xanh lam

Dù khoa học đã phát triển,  nhưng vũ trụ vẫn còn không ít những bí ẩn mà con người chưa thể giải đáp được. Tuy nhiên, bằng nghiên cứu khoa học, những hiện tượng đời thường mà chúng ta gặp phải như bầu trời có màu xanh và vũ trụ có màu đen đã được lý giải rõ ràng.

Câu hỏi xoắn não: Tại sao bầu trời có màu xanh và vũ trụ có màu đen? - Ảnh 1.

 

Ai cũng biết và quen thuộc với việc bầu trời có màu xanh, nhưng ít ai biết được lý do tại sao. Về cơ bản, ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt đất là màu trắng, nhưng khi đi qua bầu khí quyển sẽ có nhiều màu sắc khác nhau tùy theo thời tiết, độ ẩm, không khí. Dù vậy, màu sắc mà con người thường nhìn thấy trên bầu trời là màu xanh, vì chùm sáng xanh lam có bước sóng dài nhất đi vào khí quyển. Chùm sáng này bị không khí tán xạ mạnh và chịu phản xạ bởi hơi nước, bụi bặm. Kết quả của quá trình chiếu sáng này là con người nhìn thấy màu xanh lam trên bầu trời.

Câu hỏi xoắn não: Tại sao bầu trời có màu xanh và vũ trụ có màu đen? - Ảnh 2.

 

Tương tự như vậy, khi chiều tà, lương không khí dày hơn sẽ làm tán xạ được cả ánh sáng đỏ và cam trên bầu trời. Lúc này,người ta sẽ thấy trời có màu đỏ ối hoặc màu cam vào lúc hoàng hôn. Để dễ hiểu hơn thì khi mặt trời lặn, ánh sáng cần phải đi một đoạn đường dài hơn qua không khí trước khi đến được với mắt người. Vì thế, sẽ có nhiều ánh sáng bị phản xạ và tán xạ hơn. Càng có ít ánh sáng trực tiếp từ mặt trợi chiếu đến vị trí người nhìn thì hình ảnh mặt trời sẽ càng ít phát sáng hơn. Đồng thời, màu sắc của nền trời cũng có sự thay đổi từ màu vàng sang cam rồi cuối cùng là đỏ.

Và vì sao vũ trụ có màu đen

Vũ trụ có màu đen dù mặt trời và hàng vạn vì sao đều chiếu sáng. Điều này là do quy luật của ánh sáng, tức là mắt người chỉ nhìn thấy một vật trong trường hợp ánh sáng từ vật đó chiếu đến mắt người và hình ảnh nhìn thấy tương quan với kích thước của vật phát sáng. Thế nên dù các vì sao có sáng và nhiều đến đâu, nhưng vì chúng ở cách nhau quá xa nên vũ trụ mênh mông luôn là một màu đen với các chấm sáng lốm đốm như ta thường thấy.

Câu hỏi xoắn não: Tại sao bầu trời có màu xanh và vũ trụ có màu đen? - Ảnh 3.

 

Ngoài ra, quy luật ánh sáng này cũng áp dụng cho cả màu sắc của những ngôi sao mà chúng ta nhìn thấy. Dù các ngôi sao trên thực tế có cả màu xanh lá cây, nhưng vì khi nhìn vào vật thể, mắt người lại trộn tất cả các màu sắc có bước sóng khác nhau lại nên hình ảnh cuối cùng đề chỉ là màu trắng, giống như với mặt trời. Thế nên, dù đôi khi có thể thấy những ngôi sao có màu sắc đỏ, cam, trắng, vàng… nhưng hầu như con người không bao giờ nhìn thấy được những ngôi sao có màu xanh lá cây.

0 0
Huyền Linh 23/02/2021 11:51
Những chiếc xe bồn thường được treo một sợi dây xích dài phía sau xe, vậy lý do cho điều này là gì? Hãy cùng tìm hiểu câu trả lời qua bài viết sau.Khi tham gia giao thông trên đường, chắc hẳn bạn đã từng nhìn thấy một chiếc xe bồn nhưng ở phía sau nó lại treo một đoạn dây xích thả xuống mặt đường và tự hỏi mục đích của việc làm này là gì?Xe bồn chở xăng hay dầu có thể bốc cháy do hiện tượng tĩnh điện. Ảnh: Carbis SolutionsLý do rất đơn giản, khi chiếc xe bồn chở xăng hay dầu di chuyển thì các chất này thường tiếp xúc với không khí khô bên trong bồn. Mặt khác vùng không khí này lại xọ xát với thành bồn nên rất dễ bị nhiễm điện.Kết hợp cả hai điều kiện này sẽ rất dễ gây ra cháy nổ do hiện tượng tĩnh điện (Static electricity), đây là một hiện tượng thường gặp trong cuộc sống khi xảy ra mất cân bằng điện tích trên bề mặt của một vật liệu.Hiện tượng tĩnh điện xảy ra khi xe di chuyển trên đường. Ảnh: Thành LuânNhững điện tích này sẽ được lưu giữ lại ở bề mặt đó cho đến khi chúng có thể truyền sang nơi khác thông qua việc truyền điện hay thậm chí là phóng điện với các tia lửa điện mà chúng ta có thể quan sát bằng mắt thường.Chính vì thế việc sử dụng một sợi dây xích (có hệ số dẫn điện cao) sẽ giúp giải quyết bài toàn tĩnh điện khi mau chóng chuyển những điện tích 'tĩnh' này thành dòng điện và truyền xuống mặt đất thông qua vật dẫn là sợi dây xích để trung hòa điện, từ đó tránh gây cháy nổ.Hệ thống Road Tanker Grounding (Earthing) dùng để trung hòa điện. Ảnh: Thành LuânKhông chỉ có nguy cơ xảy ra hiện tượng tĩnh điện khi di chuyển, người ta còn phải giải quyết vấn đề này khi đổ xăng dầu vào bồn hay ngược lại. Có những thiết bị chuyên dụng như hệ thống RTR - Road Tanker Grounding (Earthing) dùng để trung hòa điện. Nguồn: Longvehicletrailer, Oilandgasproductnews, Pcne

Những chiếc xe bồn thường được treo một sợi dây xích dài phía sau xe, vậy lý do cho điều này là gì? Hãy cùng tìm hiểu câu trả lời qua bài viết sau.

Khi tham gia giao thông trên đường, chắc hẳn bạn đã từng nhìn thấy một chiếc xe bồn nhưng ở phía sau nó lại treo một đoạn dây xích thả xuống mặt đường và tự hỏi mục đích của việc làm này là gì?

Tại sao xe bồn chở xăng, dầu lại treo một sợi dây xích dài phía sau? - Ảnh 1.
Xe bồn chở xăng hay dầu có thể bốc cháy do hiện tượng tĩnh điện. Ảnh: Carbis Solutions

Lý do rất đơn giản, khi chiếc xe bồn chở xăng hay dầu di chuyển thì các chất này thường tiếp xúc với không khí khô bên trong bồn. Mặt khác vùng không khí này lại xọ xát với thành bồn nên rất dễ bị nhiễm điện.

Kết hợp cả hai điều kiện này sẽ rất dễ gây ra cháy nổ do hiện tượng tĩnh điện (Static electricity), đây là một hiện tượng thường gặp trong cuộc sống khi xảy ra mất cân bằng điện tích trên bề mặt của một vật liệu.

Tại sao xe bồn chở xăng, dầu lại treo một sợi dây xích dài phía sau? - Ảnh 2.
Hiện tượng tĩnh điện xảy ra khi xe di chuyển trên đường. Ảnh: Thành Luân

Những điện tích này sẽ được lưu giữ lại ở bề mặt đó cho đến khi chúng có thể truyền sang nơi khác thông qua việc truyền điện hay thậm chí là phóng điện với các tia lửa điện mà chúng ta có thể quan sát bằng mắt thường.

Chính vì thế việc sử dụng một sợi dây xích (có hệ số dẫn điện cao) sẽ giúp giải quyết bài toàn tĩnh điện khi mau chóng chuyển những điện tích 'tĩnh' này thành dòng điện và truyền xuống mặt đất thông qua vật dẫn là sợi dây xích để trung hòa điện, từ đó tránh gây cháy nổ.

Tại sao xe bồn chở xăng, dầu lại treo một sợi dây xích dài phía sau? - Ảnh 4.
Hệ thống Road Tanker Grounding (Earthing) dùng để trung hòa điện. Ảnh: Thành Luân

Không chỉ có nguy cơ xảy ra hiện tượng tĩnh điện khi di chuyển, người ta còn phải giải quyết vấn đề này khi đổ xăng dầu vào bồn hay ngược lại. Có những thiết bị chuyên dụng như hệ thống RTR - Road Tanker Grounding (Earthing) dùng để trung hòa điện.
 

Nguồn: Longvehicletrailer, Oilandgasproductnews, Pcne

0 0
Bảo Nhi 22/02/2021 14:56
Đã khi nào bạn thắc mắc vì sao tháng 2 lại có 28 ngày (hoặc 29 ngày nếu là năm nhuận) chưa? Nếu biết được sự thật này hẳn là bạn sẽ ngạc nhiên đấy!Ở thời điểm hiện tại, hầu hết các nước trên thế giới, trong đó bao gồm cả Việt Nam đang sử dụng hệ thống lịch Gregorian (Dương lịch) làm công cụ chính thức để phân chia thời gian trong một năm. Được biết, lịch Gregorian xuất hiện vào năm 1582, do Giáo hoàng Gregorian XIII ban hành.Hệ lịch này chia 1 năm thông thường thành 365 ngày với 12 tháng. Mỗi tháng trong năm sẽ có khoảng 30-31 ngày, duy chỉ có tháng hai vỏn vẹn 28 ngày, 4 năm một lần lại được bổ sung thêm 1 ngày và tạo thành năm nhuận. Chắc hẳn nhiều người sẽ thắc mắc rằng: “Tại sao tháng hai lại đặc biệt như vậy?”. Để tìm lời giải đáp cho câu hỏi này, chúng ta cần quay ngược bánh xe thời gian về quá khứ, trở lại thời điểm tổ tiên của bộ lịch Dương được khai sinh bởi người La Mã.Các chuyên gia khảo cổ đã phát hiện lý do của việc này là sự giữ nguyên cách tính lịch của người La Mã trước kia. Lịch La Mã ban đầu ban hành bởi Romulus, vị hoàng đế đầu tiên của thành Rome. Lịch do ông ban hành dựa vào chu kỳ của Mặt Trăng, tức là tương tự như âm lịch của người phương Đông, tuy nhiên chỉ có 10 tháng bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc vào cuối tháng 12 theo danh sách dưới đây, lúc này tháng 1 và tháng 2 chưa hề tồn tại:Martius: 31 ngày, Aprilius: 30 ngày, Maius: 31 ngày, Junius: 30 ngày, Quintilis: 31 ngày, Sextilis: 30 ngày, September: 30 ngày, October: 31 ngày, November: 30 ngày, December: 30 ngày.Lưu ý: cách đánh số tháng 1, 2, 3, ... là do cách dịch của người Việt Nam, còn trong nguyên bản của lịch La Mã cũng như cách dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới thì mỗi tháng có tên riêng như trên.Như vậy, một năm chỉ có 10 tháng tương đương với 304 ngày, tức là có một khoảng thời gian kéo dài hai chu kỳ của Mặt Trăng không được đưa vào lịch. Nguyên nhân của vấn đề này bắt nguồn từ việc người La Mã vốn không có khái niệm mùa đông trong lịch hàng ngày vì theo quan niệm của họ mùa đông là khoảng thời gian vô dụng nhất đối với canh tác nông nghiệp.Tháng 2 lúc đó được coi là tháng cuối cùng của năm thay vì như quy ước hiện nay là tháng 12.Khoảng thế kỷ thứ 8 TCN - cụ thể là năm 731 TCN, hoàng đế Numa Pompilius đã nhận thấy điều này là hết sức ngớ ngẩn và ông quyết định đưa thêm hai tháng nữa vào lịch cho đủ 12 chu kỳ của Mặt Trăng. Mỗi tháng này có 28 ngày, làm cho lịch kéo dài đủ 12 chu kỳ của Mặt Trăng, tổng cộng là 354 ngày với sự xuất hiện của tháng 1 và tháng 2. Do 2 tháng mới này thuộc dạng "sinh sau đẻ muộn", tháng 2 lúc đó được coi là tháng cuối cùng của năm thay vì như quy ước hiện nay là tháng 12.Tuy vậy, quan niệm hồi đó quy định số chẵn liên quan đến vận đen nên sau đó Numa Pompilius quyết định tăng thêm 1 ngày vào tổng số ngày trong năm thành số lẻ. Bên cạnh đó, số ngày của các tháng cũng được điều chỉnh lại thành số lẻ, nhưng nếu vậy thì số ngày trong năm lại thành số chẵn. Cuối cùng, hoàng đế Pompilus quyết định chọn tháng cuối cùng của năm - tháng 2 - sẽ là tháng có 28 ngày như danh sách dưới đây vì ông nghĩ rằng nếu phải có một tháng có số ngày chẵn thì chọn tháng ngắn nhất:Martius: 31 ngày, Aprilius: 29 ngày, Maius: 31 ngày, Junius: 29 ngày, Quintilis: 31 ngày, Sextilis: 29 ngày, September: 29 ngày, October: 31 ngày, November: 29 ngày, December: 29 ngày, Januarius: 29 ngày, Februarius: 28 ngày.Mặc dù vậy, lịch đặt theo chu kỳ của Mặt Trăng dần bộc lộ điểm yếu, nó không phản ánh đúng được chu kỳ biến đổi thời tiết các mùa, vì chu kỳ này gắn liền với chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời chứ không phải chuyển động của Mặttrăng quanh Trái đất. Vì lý do đó, người La Mã lại quyết định cứ hai năm thì đưa vào thêm một tháng nhuận kéo dài 27 ngày sau ngày 23 tháng 2 có tên Mercedonius (những năm đó tháng 2 chỉ có 23 ngày).Hệ quả là việc thay đổi như trên làm việc tính lịch trở nên rắc rối. Đến khoảng năm 45 TCN, hoàng đế Julius Caesar quyết định thay đổi hệ thống tính lịch này, giữ nguyên 12 tháng nhưng thêm ngày vào các tháng để cho 12 tháng đó trùng với chu kỳ của Mặt trời (chu kỳ vị trí của Mặt trời trên bầu trời, chứ không phải chu kỳ Trái đất chuyển động quanh Mặt Trời vì thời đó người ta không biết Trái đất có quỹ đạo quanh Mặt trời).Dương lịch chúng ta sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã đã được hoàn thiện thêm.Ngoài ra, hoàng đế Caesar cũng đặt quy định cứ 4 năm một lần thì tháng hai lại được cộng thêm một ngày cho phù hợp với chu kỳ của Mặt trời được tính ra khi đó là 365,25 ngày, điều này về cơ bản khá gần với chu kỳ thật của Trái Đất quanh Mặt trời hiện nay chúng ta biết là 365,2425 ngày. Thực tế ngay sau khi thay đổi quy ước lịch, năm 46 TCN - năm đầu tiên áp dụng kiểu lịch mới - có tới 455 ngày.Có nguồn tài liệu ghi rằng ban đầu theo cách tính lịch của Caesar, tháng 2 có 29 ngày và mỗi 4 năm nó được thêm một ngày thành 30 ngày, tức là không có chênh lệch lớn với các tháng khác. Tuy vậy sau này khi các tháng được đặt tên lại, ngày thứ 29 của tháng 2 được chuyển sang tháng 8 do tên theo tiếng anh là August - nó được đặt theo tên của Augustus (Hoàng đế sáng lập đế chế La Mã) - để cho tháng đó có độ dài tương đương với tháng 7 (July) đặt theo tên của Julius Caesar.Dương lịch chúng ta sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã đã được hoàn thiện thêm. Cách chia các tháng vẫn giữ nguyên để tôn trọng lịch sử và đó là lí do tháng hai có ít ngày hơn các tháng khác. Về cơ bản đây chỉ là một qui ước, không gây ảnh hưởng gì tới việc sử dụng thời gian của loài người.

Đã khi nào bạn thắc mắc vì sao tháng 2 lại có 28 ngày (hoặc 29 ngày nếu là năm nhuận) chưa? Nếu biết được sự thật này hẳn là bạn sẽ ngạc nhiên đấy!

Ở thời điểm hiện tại, hầu hết các nước trên thế giới, trong đó bao gồm cả Việt Nam đang sử dụng hệ thống lịch Gregorian (Dương lịch) làm công cụ chính thức để phân chia thời gian trong một năm. Được biết, lịch Gregorian xuất hiện vào năm 1582, do Giáo hoàng Gregorian XIII ban hành.

Hệ lịch này chia 1 năm thông thường thành 365 ngày với 12 tháng. Mỗi tháng trong năm sẽ có khoảng 30-31 ngày, duy chỉ có tháng hai vỏn vẹn 28 ngày, 4 năm một lần lại được bổ sung thêm 1 ngày và tạo thành năm nhuận. Chắc hẳn nhiều người sẽ thắc mắc rằng: “Tại sao tháng hai lại đặc biệt như vậy?”. Để tìm lời giải đáp cho câu hỏi này, chúng ta cần quay ngược bánh xe thời gian về quá khứ, trở lại thời điểm tổ tiên của bộ lịch Dương được khai sinh bởi người La Mã.

Các chuyên gia khảo cổ đã phát hiện lý do của việc này là sự giữ nguyên cách tính lịch của người La Mã trước kia. Lịch La Mã ban đầu ban hành bởi Romulus, vị hoàng đế đầu tiên của thành Rome. Lịch do ông ban hành dựa vào chu kỳ của Mặt Trăng, tức là tương tự như âm lịch của người phương Đông, tuy nhiên chỉ có 10 tháng bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc vào cuối tháng 12 theo danh sách dưới đây, lúc này tháng 1 và tháng 2 chưa hề tồn tại:

Martius: 31 ngày, Aprilius: 30 ngày, Maius: 31 ngày, Junius: 30 ngày, Quintilis: 31 ngày, Sextilis: 30 ngày, September: 30 ngày, October: 31 ngày, November: 30 ngày, December: 30 ngày.

Lưu ý: cách đánh số tháng 1, 2, 3, ... là do cách dịch của người Việt Nam, còn trong nguyên bản của lịch La Mã cũng như cách dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới thì mỗi tháng có tên riêng như trên.

Như vậy, một năm chỉ có 10 tháng tương đương với 304 ngày, tức là có một khoảng thời gian kéo dài hai chu kỳ của Mặt Trăng không được đưa vào lịch. Nguyên nhân của vấn đề này bắt nguồn từ việc người La Mã vốn không có khái niệm mùa đông trong lịch hàng ngày vì theo quan niệm của họ mùa đông là khoảng thời gian vô dụng nhất đối với canh tác nông nghiệp.

Tháng 2 lúc đó được coi là tháng cuối cùng của năm thay vì như quy ước hiện nay là tháng 12.
Tháng 2 lúc đó được coi là tháng cuối cùng của năm thay vì như quy ước hiện nay là tháng 12.

Khoảng thế kỷ thứ 8 TCN - cụ thể là năm 731 TCN, hoàng đế Numa Pompilius đã nhận thấy điều này là hết sức ngớ ngẩn và ông quyết định đưa thêm hai tháng nữa vào lịch cho đủ 12 chu kỳ của Mặt Trăng. Mỗi tháng này có 28 ngày, làm cho lịch kéo dài đủ 12 chu kỳ của Mặt Trăng, tổng cộng là 354 ngày với sự xuất hiện của tháng 1 và tháng 2. Do 2 tháng mới này thuộc dạng "sinh sau đẻ muộn", tháng 2 lúc đó được coi là tháng cuối cùng của năm thay vì như quy ước hiện nay là tháng 12.

Tuy vậy, quan niệm hồi đó quy định số chẵn liên quan đến vận đen nên sau đó Numa Pompilius quyết định tăng thêm 1 ngày vào tổng số ngày trong năm thành số lẻ. Bên cạnh đó, số ngày của các tháng cũng được điều chỉnh lại thành số lẻ, nhưng nếu vậy thì số ngày trong năm lại thành số chẵn. Cuối cùng, hoàng đế Pompilus quyết định chọn tháng cuối cùng của năm - tháng 2 - sẽ là tháng có 28 ngày như danh sách dưới đây vì ông nghĩ rằng nếu phải có một tháng có số ngày chẵn thì chọn tháng ngắn nhất:

Martius: 31 ngày, Aprilius: 29 ngày, Maius: 31 ngày, Junius: 29 ngày, Quintilis: 31 ngày, Sextilis: 29 ngày, September: 29 ngày, October: 31 ngày, November: 29 ngày, December: 29 ngày, Januarius: 29 ngày, Februarius: 28 ngày.

Mặc dù vậy, lịch đặt theo chu kỳ của Mặt Trăng dần bộc lộ điểm yếu, nó không phản ánh đúng được chu kỳ biến đổi thời tiết các mùa, vì chu kỳ này gắn liền với chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời chứ không phải chuyển động của Mặttrăng quanh Trái đất. Vì lý do đó, người La Mã lại quyết định cứ hai năm thì đưa vào thêm một tháng nhuận kéo dài 27 ngày sau ngày 23 tháng 2 có tên Mercedonius (những năm đó tháng 2 chỉ có 23 ngày).

Hệ quả là việc thay đổi như trên làm việc tính lịch trở nên rắc rối. Đến khoảng năm 45 TCN, hoàng đế Julius Caesar quyết định thay đổi hệ thống tính lịch này, giữ nguyên 12 tháng nhưng thêm ngày vào các tháng để cho 12 tháng đó trùng với chu kỳ của Mặt trời (chu kỳ vị trí của Mặt trời trên bầu trời, chứ không phải chu kỳ Trái đất chuyển động quanh Mặt Trời vì thời đó người ta không biết Trái đất có quỹ đạo quanh Mặt trời).

Dương lịch chúng ta sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã đã được hoàn thiện thêm.
Dương lịch chúng ta sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã đã được hoàn thiện thêm.

Ngoài ra, hoàng đế Caesar cũng đặt quy định cứ 4 năm một lần thì tháng hai lại được cộng thêm một ngày cho phù hợp với chu kỳ của Mặt trời được tính ra khi đó là 365,25 ngày, điều này về cơ bản khá gần với chu kỳ thật của Trái Đất quanh Mặt trời hiện nay chúng ta biết là 365,2425 ngày. Thực tế ngay sau khi thay đổi quy ước lịch, năm 46 TCN - năm đầu tiên áp dụng kiểu lịch mới - có tới 455 ngày.

Có nguồn tài liệu ghi rằng ban đầu theo cách tính lịch của Caesar, tháng 2 có 29 ngày và mỗi 4 năm nó được thêm một ngày thành 30 ngày, tức là không có chênh lệch lớn với các tháng khác. Tuy vậy sau này khi các tháng được đặt tên lại, ngày thứ 29 của tháng 2 được chuyển sang tháng 8 do tên theo tiếng anh là August - nó được đặt theo tên của Augustus (Hoàng đế sáng lập đế chế La Mã) - để cho tháng đó có độ dài tương đương với tháng 7 (July) đặt theo tên của Julius Caesar.

Dương lịch chúng ta sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã đã được hoàn thiện thêm. Cách chia các tháng vẫn giữ nguyên để tôn trọng lịch sử và đó là lí do tháng hai có ít ngày hơn các tháng khác. Về cơ bản đây chỉ là một qui ước, không gây ảnh hưởng gì tới việc sử dụng thời gian của loài người.

0 0